Khám phá những di sản thế giới tuyệt đẹp của châu Á
Loading...
MDG Tour - Gia dinh banner
MDG Tour - Thanh xuan
MDG Tour LỄ
MDG Tour - Once a year banner
Khám phá những di sản thế giới tuyệt đẹp của châu Á

Công viên khảo cổ Angkor

Tại khu vực Đông Nam Á thìCông viên khảo cổ Angkor của Campuchia được xem là một trong những địa điểm khảo cổ quan trọng nhất. Công viên khảo cổ này bao gồm rất nhiều đền đài, hệ thống thủy lợi. Đặc biệt là các tuyến đường giao thông quan trọng của Đế chế Khmer từ thế kỷ 9 - 15. Bên cạnh đó, trong quần thể đền đài thì Angkor Wat là ngôi đền đáng chú ý nhất. Ngôi đền được xây dựng từ đầu thế kỷ 12 và cũng là một di tích tôn giáo lớn nhất thế giới được nhiều người biết đến. Nét nổi bật của ngôi đên là được xây dựng bằng các khối đá sa thạch khai thác từ núi Phnom Kule. Sau đó, người ta vận chuyển những khối đá lớn ấy về bằng bè dọc theo sông Siem Reap. Ngoài những di tích nổi tiếng của kinh đô thời đại Angkor như Angkor Thom, Angkor Wat, thành phổ cố mới được phát hiện Mahendraparveta đang tạo cơn sốt khiến du khách yêu mến đất nước chùa tháp Campuchia muốn trở lại nơi đây. Angkor là thủ đô của vương quốc Khmer, được xây dựng năm 802 trước công nguyên trên núi Kulen, khi vua Jayavarman II lên trị vì. Ngày nay, điểm du lịch nổi tiếng nhất ở Angkor là Angkor Thom nơi có ngôi đền Bayon với tượng mặt cười khổng lồ khắc trên đá, hay Angkor Wat - ngôi đền Hindu lớn nhất thế giới và những ngôi đền nhỏ hơn như Ta Prohm, Preah Khan, Pre Rup và Ta Nei.

Tuy nhiên, báo cáo mới công bố của Viện Hàn Lâm Khoa học quốc gia Mỹ (NAS) cho thấy những cái nhìn đầy đủ hơn về Angkor - quần thể kiến trúc bất hủ, được quy hoạch rất quy củ và là một siêu đô thị cổ sôi động. Mặc dù rất nhiều thành phố cổ nhanh chóng bị xóa nhòa khi chôn vùi dưới mặt đất, thì những hoạt động của con người nơi đây hàng trăm năm trước vẫn đã được khắc ghi lại. Thành phố cổ Mahendraparvata mới được tìm thấy còn khá nguyên vẹn, ngoại trừ những tổn thất gây ra bởi thiên nhiên, hiện chưa có kẻ săn cổ vật nào có thể tiếp cận khu vực này. Tại đây, các nhà khảo cổ tìm thấy hơn 20 ngôi đền, kênh đào, mương và những con đường cổ có niên đại hàng nghìn năm. Ngoài ra, để tạo nên đô thị Angko khổng lồ còn có cả chuỗi các thành phố vệ tinh như Beng Meala đầy mê hoặc cách Siem Riep 52km hay Koh Ker rực rỡ cách khoảng 120 km, Phnom Kulen (núi Kulen) cách Siem Riep 52 km về phía bắc là nơi tìm thấy thành phố Mahendraparvata hay còn gọi là Núi của Indra (tên vua của các vị thần). Khi đến Siem Riep, hãy thuê cho mình một hướng dẫn viên địa phương và trải nghiệm hành trình trên chiếc xe tuk-tuk độc đáo, để khám phá công viên khảo cổ học Angkor nhé!

* Tham khảo hành trình khám phá Angkor Wat tại đây.

Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long là một danh lam thắng cảnh không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà còn được cả thế giới công nhân. Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh, bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ mang vẻ đẹp nên thơ của núi non và sông nước. Có thể nhiều người vẫn chưa biết tại sao "Vịnh" có cái tên là Hạ Long. Nó xuất phát từ một truyền thuyết về một con rồng bay từ trên trời xuống, miệng phun ngọc trên biển. Những viên ngọc được rồng phun ra hóa thành những hòn núi đá vôi để ngăn quân thù khi vừa chạm mặt nước biển. Ngày nay, các ngọn núi đá vôi hùng vĩ nổi trên mặt biển xanh biếc tạo nên một khung cảnh say đắm lòng người, không chỉ thu hút khách du lịch trong nước mà còn nước ngoài. Vịnh Hạ Long được biết đến là không chỉ là di sản thế giới UNESCO mà còn là một trong những kỳ quan thiên nhiên nổi tiếng thế giới. Nhưng ít người biết rằng Quần thể Vịnh Hạ Long bao gồm 02 vịnh hoang sơ tuyệt đẹp khác là vịnh Lan Hạ và vịnh Bái Tử Long (từ đây gọi tắt Quần thể Vịnh Hạ Long này là Vịnh Hạ Long).Với nhiều danh lam thắng cảnh, hệ động thực vật đa dạng, phong phú có ý nghĩa khảo cổ và địa chất lớn, có dấu mộc gắn liền giá trị văn hóa và lịch sử và gần cửa ngõ quốc tế, Vịnh Hạ Long được coi là một trong những địa điểm nổi tiếng nhất của Việt Nam với du khách nước ngoài.

Vịnh Hạ Long nằm ở phía tây của Vịnh Bắc Bộ Việt Nam. Trung tâm thành phố Hạ Long nằm sát biển ở phía bắc của vịnh. Vịnh Hạ Long có tổng diện tích là 1.553 km2, bao gồm 2 vịnh nổi tiếng là Vịnh Bái Tử Long ở phía đông và Vịnh Lan Hạ (nơi có Đảo Cát Bà) ở phía nam.Vịnh Hạ Long không chỉ được du khách biết đến với những hang động tự nhiên được kiến tạo từ hằng triệu năm nằm rải rác trên 1.969 hòn đảo lớn nhỏ mà còn nổi tiếng thế giới với thảm thực vật phong phú và các loài sinh vật đa dạng. Vẻ đẹp của vịnh Hạ Long được tạo nên từ 3 yếu tố: đá, nước và bầu trời. Vịnh Hạ Long có diện tích khoảng 1.553km2, bao gồm 1.969 hòn đảo, vùng lõi của vịnh có diện tích 334km2 với hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi, hệ thống hang động phong phú. Trong vịnh có cảnh quan đặc sắc do đảo đá Hạ Long muôn hình vạn trạng với nét hoạ tiết, màu sắc của đảo núi, hòa quyện với trời biển tạo nên một bức tranh thuỷ mặc tráng lệ. Trải qua 500 triệu năm kiến tạo là quá trình Vịnh Hạ Long trở thành nền tảng phát sinh các giá trị vô giá của loài người như đa dạng sinh học, văn hóa khảo cổ và các giá trị nhân văn khác, qua lịch sử địa chất - địa mạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với khoa học địa mạo trên toàn cầu, cũng như việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của vỏ Trái đất.

* Tham khảo hành trình khám phá Vịnh Hạ Long tại đây.

Di tích lịch sử Kyoto (Nhật Bản)

Ở Nhật Bản, Kyoto được xem là thành phố cổ kính đúng nghĩa, không có các tòa nhà chọc trời, những công trình hiện đại. Bù lại, cố đô còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử, văn hóa cả về vật chất và tinh thần. Kyoto là hiện thân của nước Nhật cổ xưa, huyền thoại với nhịp sống chậm rãi, thanh bình, hòa hiếu. Có hơn một nửa số chùa miếu, đền đài, dinh thự cổ kính của Nhật Bản tập trung ở Kyoto. Nhà thấp, ẩn hiện và đan xen cây trái, đường nhỏ phố hẹp, nhiều xe đạp, ít xe hơi; con người phóng khoáng và có một đặc điểm nổi bật là rất thích đi bộ. Khi tham quan cố đô Kyoto du khách sẽ khám phá: 14 chùa Phật giáo bao gồm: chùa Kyogokoku-ji, chùa Kiyomizu-dera, chùa Enryaku, chùa Daigo, chùa Ninna, thiền viện Byodo-in, chùa Kozan, chùa rêu Saiho, chùa Tenryu, chùa Rokuon, chùa Jisho, chùa Ryoan, chùa Nishi Hongan, 3 đền Thần đạo bao gồm đền Kamigamo, đền Shimogamo, đền Ujigami và một lâu đài là lâu đài Nijo. Trong đó, nổi bật nhất là chùa Kiyomizu với kiến trúc bằng gỗ trên cao, chùa Kinkakuji được bao phủ bằng những chiếc lá bằng vàng nguyên chất, chùa Ryoanji với khu vườn đá phong cách thiền, và chùa Kozanji nằm sâu trong rừng với những quốc bảo quý nhất của Nhật.

Tại đây, Kyoto có 14 đền đài được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, trong đó có chùa Kiyomizu (có nghĩa là Dòng nước thanh khiết), một trong những ngôi chùa đẹp nhất thế giới. Chùa Kiyomizu được xây dựng năm 778 trên đồi Otawa,chùa Kiyomizu thờ Phật Quan Âm nghìn tay. Tuyệt tác kiến trúc phương Đông này chủ yếu làm bằng gỗ với 139 cột lớn, thanh thoát mà vững chãi. Sau chùa có thác nước chảy xuống theo đường dẫn thành 3 dòng, tượng trưng cho những khát vọng của con người - đó là tình yêu, sức khỏe và tiền bạc. Du khách đến đây xếp hàng trang nghiêm, cầm gáo hứng dòng nước thiêng từ vách đá, vừa uống vừa thành kính khấn nguyện. Trong chùa có đền Jishu thờ thần Tình yêu, có 2 tảng đá nhỏ đặt cách nhau chừng 18m. Nam thanh nữ tú đến đền Jishu thường nhắm mắt, đi từ tảng đá này tới tảng đá kia. Ai tới đích nhất định sẽ tìm được một nửa của mình trong cuộc sống. Nói tới Chùa Kiyomizu được biết tới như dòng nước tinh khiết thì Kinkaku-ji còn gọi là Rokuon-ji một trong những ngôi chùa nổi tiếng khắp thế giới, chùa Lộc Uyển, chùa Vườn Nai, chùa Gác Vàng… xây dựng năm 1397. Kinkaku là một trong những công trình kiến trúc ở chùa - là tòa nhà 3 tầng soi bóng xuống hồ Kyoko-chi, còn gọi là Kính Trì. Ban đầu chỉ có phần vách tầng 2 và tầng 3 dát vàng ròng. Tên gọi chùa Gác Vàng có nguồn gốc như vậy.

* Tham khảo hành trình khám phá Kyoto - Nhật Bản tại đây

Vạn Lý Trường Thành

Vạn Lý Trường Thành được xem như công trình vĩ đại nhất Trung Quốc mà bất cứ khách đi tour Bắc Kinh hay chùm Tour Trung Quốc cũng nên đến tham quan một lần. Vạn Lý Trường Thành trở thành Di sản thế giới của UNESCO vào năm 1987. Thật vậy, Vạn Lý Trường Thành là một trong những kỳ quan nhân tạo lâu đời nhất và hùng vĩ nhất còn tồn tại đến ngày nay, biểu tượng của nền văn minh Trung Quốc cổ đại. Nhiều người đã nghĩ Vạn Lý Trường Thành là công trình ở Bắc Kinh nhưng Vạn Lý Trường Thành thật ra là tên gọi chung của tập hợp nhiều thành lũy bằng đất đá được xây dựng ước tính có niên đại hơn 2500 năm, kéo dài tới 21196,18 km từ phía Đông sang Tây. Trải qua rất nhiều triều đại phong kiến Trung Hoa. Bắt đầu từ thời Xuân Thu Chiến Quốc, các nước đã tự độc lập xây những đoạn tường thành ở phía Bắc nhằm tránh giặc Hung nô tràn xuống. Đến khi Hoàng Đế Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa ông đã cho tiếp tục xây dựng nhằm liên kết các tuyến phòng thủ đã tồn tại trước đó. Công trình còn được tiếp tục xây dựng tới triều đại nhà Minh. Vạn Lý Trường Thành có chức năng như một tuyến phòng thủ quân sự bảo vệ Trung Hoa khỏi những cuộc xâm lược của các bộ tộc du mục phương Bắc như Mông Cổ, Mãn Châu. Bởi vai trò quan trọng này mà nó được kéo dài liên tục trong suốt 2000 năm sau đó, cho đến cuối triều đại nhà Minh, mở rộng ra 15 tỉnh thành của Trung Quốc, mang hình dạng uốn lượn của Rồng.

Qua hàng ngàn năm, qua các triều đại, nhiều phần của Vạn Lý Trường Thành đã bị tàn phá nghiêm trọng do cả tác động của chiến tranh, con người và thiên nhiên. Vạn Lý Trường Thành mà khách đi tour Bắc Kinh giá rẻ được khám phá ngày nay chủ yếu được xây dựng dưới thời nhà Minh, từ 1368 - 1647, bắt đầu từ Hổ Sơn (Liêu Ninh) và kết thúc ở Gia Dục Quan (Cam Túc). Theo các nghiên cứu khảo cổ, Vạn Lý Trường Thành dài khoảng 8.850km nhưng theo số liệu năm 2012, chiều dài của Vạn Lý Trường Thành lên đến 21.196km. Ngày nay, những phần nổi tiếng nhất của bức tường thành vạn dặm này là Bát Đạt Lĩnh (Badaling), Mộ Điền Dục (Mutianyu), Kim Sơn Lĩnh (Jinshangling), Tư Mã Đài (Simatai), Cửa ải Gia Dục Quan, Cư Dung Quan, Sơn Hải Quan.Trong đó, Mộ Điền Dục là phần tường thành được gợi ý cho du khách tour Bắc Kinh giá rẻ đến nhiều nhất còn Kim Sơn Lĩnh và Tư Mã Đài lại thích hợp hơn cho hoạt động đi bộ đường dài. Vạn Lý Trường Thành như một bản trường ca gắn liền với ý chí bền bỉ, lịch sử bi tráng hào hùng của nhân dân Trung Hoa. Bởi vậy, với những người đam mê nghiên cứu lịch sử, theo tour Bắc Kinh từ Hà Nội, bạn sẽ được thỏa mãn với những kiến thức tự mình thu được hoặc qua những câu chuyện được giới thiệu bới hướng dẫn viên. Và kể cả bạn không quá am hiểu hay quan tâm đến lịch sử thì phong cảnh ở Vạn Lý Trường Thành cũng đủ xinh đẹp nên thơ khiến bạn “đi một lần nhớ mãi”.

* Tham khảo hành trình khám phá Vạn Lý Trường Thành tại đây

Hang động Dambulla

Ở khu hang động Dambulla lớn nhất Sri Lanka, có năm ngôi đền linh thiêng mà bên trong là hàng chục tượng Phật dát vàng, có tượng dài tới 30m. Đền thờ ở hang động Dambulla (Dam̆būlū Len Vihāraya) còn được gọi là khu đền Vàng của Dambulla đã được UNESCO công nhận Di sản thế giới vào năm 1991. Đây là quần thể đền trong hang lớn nhất đang được bảo tồn ở Sri Lanka. Tổng cộng có hơn 80 hang động nhưng nổi bật nhất là 5 hang động có chứa các bức tượng Phật, tranh cổ và nhiều tượng của các vị vua. Việc xây dựng một ngôi đền dưới tảng đá khổng lồ được cho là bắt nguồn từ văn hoá của người Sri Lanka thời tiền sử. Trước khi các tôn giáo bắt đầu hình thành, người dân nơi đây đã chọn các hang đá làm nơi trú ẩn và tạo nên những cộng đồng nhỏ. Dần dần, khi Phật giáo xuất hiện thì họ bắt đầu xây dựng khu đền Vàng, mà theo nhiều ghi chép thì quần thể này có từ thế kỉ 1 trước Công Nguyên (TCN). Năm hang động chứa nhiều di vật lịch sử nằm dưới một tảng đá lớn với mái hiên chạm khắc nhô ra, để đảm bảo giữ cho phía trong luôn khô ráo. Từ phía trần hang đến cột đá và các bức tường đều được tô vẽ những hoa văn cầu kì. Chủ yếu chiếm phần lớn là hình ảnh của Đức Phật và Bồ Tát cùng những vị thần khác mà người dân Sri Lanka thờ phụng.

Tương truyền, vua Vattagamini Abaya đã chọn nơi đây làm nơi tránh quân xâm lược trong thế kỉ 1 TCN. Sau khi chiến tranh kết thúc, ông và các thế hệ kế tiếp bắt đầu mở rộng khu đền. Chính vì thế mà khu đền Vàng này có kiến trúc khá vững chắc, cũng như được bảo tồn kĩ lưỡng suốt hàng thế kỉ. Tựa vào hang núi đá, mái trần của khu đền Vàng nhìn từ bên trong có độ nghiêng rất lạ mắt. Ngay bên dưới dốc mái là vô số bức tượng đại diện cho tín ngưỡng của người dân Sri Lanka. Trong đó, Dev Raja Viharaya được xem là đền thờ của các vị thần, Maha Raja Viltaraya là ngôi đền của Đại Đế, Maha Alut Viltaraya là ngôi đền vĩ đại và hang động Paschima Viharaya là nơi có rất nhiều các tác phẩm tranh hoạ của Đức Phật. Ngoài những con số ấn tượng như tháp đá cao 160m, hơn 80 hang động, 153 bức tượng cổ, những bức tranh có diện tích hơn 2000 mét vuông… thì khu đền Vàng này còn được bao quanh bởi những tán cây xanh mát. Ngay trước sân còn có hồ sen rất đẹp mắt. Đặc biệt, trên đường vào khu đền, du khách còn được tận mắt quan sát cuộc sống nơi hoang dã của đàn khỉ sống tại đây suốt hàng trăm năm qua vô cùng thú vị.

* Tham khảo hành trình khám phá Đền vàng Dambulla - Sri Lanka tại đây.

Thành phố Jaipur (Ấn Độ)

Được hình hình thành từ năm 1727, Jaipur còn được biết đến với tên gọi "thành phố màu hồng", là địa điểm du lịch rất nổi tiếng thuộc bang Rajasthan- nơi được xem là "vùng đất của những vị hoàng đế và sắc màu" ở Ấn Độ. Nơi đây được UNESCO vinh danh là di sản thế giới mới nhờ những giá trị quy hoạch và kiến trúc nổi bật mang đậm dấu ấn giao thoa giai đoạn cuối thời Trung cổ. Thành phố Jaipur nằm ở phía Bắc Ấn Độ, thủ phủ bang Rajasthan - một trong những bang lớn nhất cả nước. Jaipur được mệnh danh “Thành phố hồng” nhờ phong cách xây dựng không lẫn với bất kỳ nơi nào khác. Jaipur cách thủ đô Delhi 280km và nằm trong “tam giác vàng” trọng điểm du lịch của quốc gia này bao gồm: Delhi - Jaipur - Agra như là một hành trình di sản độc đáo. Không chỉ khoác lên mình màu hồng bắt mắt, Jaipur còn nổi tiếng với hàng loạt di sản văn hóa như pháo đài, cung điện cùng những công trình mang phong cách hoàng gia và cổ kính nên Jaipur có nhiều điểm tham quan cho du khách. Màu hồng của Jaipur xuất hiện từ khoảng năm 1876, khi người Anh chiếm đóng Ấn Độ. Nhân dịp Hoàng tử Albert dưới sự điều lệnh của Nữ hoàng Victoria sang thăm thành phố, người dân bản địa đã quét sơn hồng lên toàn bộ công trình và nhà cửa.

Tại trung tâm của thành phố Jaipur rất tất bật khi những cửa hàng kinh doanh các dịch vụ và sản phẩm du lịch tập trung dọc bên đường, xe cộ chạy san sát và náo nhiệt, các khu chợ truyền thống sôi động người mua kẻ bán, những chiếc xe ngựa chở du khách tham quan luồn qua những khoảng trống chật kín trên đường phố, tiếng người rao bán hàng rong trên vỉa hè. Jaipur là sự tổng hòa của mọi âm thanh cuộc sống hết sức sống động. Không chỉ thế, ngay tại trung tâm thành phố màu hồng này, du khách sẽ không khỏi ngạc nhiên khi bắt gặp rất nhiều loại động vật sống chung với con người. Đó là những bầy dê hàng chục con đi trên đường phố cùng những con bò nằm thư thái trên vỉa hè, trên những mái nhà luôn có những đàn khỉ dạn dĩ, những đàn bồ câu xòe cánh rộng bay khắp bầu trời Jaipur hay những đàn cò lượn lờ trên mặt hồ, trong công viên thỉnh thoảng xuất hiện bầy chuột gặm nhấm thức ăn thừa của người dân bỏ xuống. Những hình ảnh và âm thanh đó làm cho Jaipur đúng là một nơi tuyệt vời để khám phá, một đặc trưng có một không hai trên thế giới.

* Tham khảo hành trình khám phá Jaipur - Ấn Độ tại đây.  

Melaka (Malaysia)

Cách thủ đô Kualar Lumpur 150km về phía Nam, Melaka hay Malacca theo cách gọi của cả thế giới là một cựu vương quốc tại Đông Nam Á, bang nhỏ thứ ba (sau Perlis và Penang) của Malaysia, do hoàng tử Parameswara triều đình Srivijaya thuộc đảo Sumatra thành lập năm 1402, rất thịnh vượng dưới thời các vua Melaka. Trong thời hoàng kim, Melaka đã từng là trung tâm mua bán gia vị của cả vùng, một thương cảng sầm uất cho tàu thuyền và thương nhân đến từ các nước Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập và châu Âu… Tháng 8 năm 1511, Melaka bị người Bồ Đào Nha xâm chiếm và đặt ách đô hộ trong suốt 130 năm. Tiếp đến người Hà lan thay chân thống trị trong 154 năm trước khi vùng đất này trở thành thuộc địa của Anh do hiệp ước Anh - Hà Lan 1824. Từ năm 1824 cho đến năm 1957 khi Malaysia giành quyền độc lập thì Melaka vẫn là thuộc địa của Anh. Nhìn trên bản đồ, Melaka chỉ là một đốm nhỏ nằm về phía Nam Malaysia với diện tích tự nhiên 1.658km², nhưng chính eo biển nối giữa biển Đông với Ấn Độ Dương dài 805km có bề ngang nơi hẹp nhất 1,2km này đã từng nổi danh với những vụ cướp biển và khủng bố, chiếm đến 1/3 các vụ cướp biển trên thế giới.

Melaka là thành phố cổ xưa nhất Malaysia, có dòng sông Melaka (tên địa phương là Tan Boon Seng) chảy qua chia thành phố làm 2 phần: phía Đông là khu trung tâm mang dáng dấp khu phố kiểu châu Âu và phía Tây là khu phố Trung Hoa với dịch vụ buôn bán khá sầm uất. Vẻ đẹp sông nước đã khiến Melaka được ví như Venise của phương Đông. Sự hòa hợp giữa văn hóa bản địa với văn hóa mới du nhập như Trung Hoa, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh… đã tạo cho Melaka một nét đẹp độc đáo, trở thành thành phố đa chủng và đa ngôn ngữ, được UNESCO công nhận “Di sản văn hóa thế giới” từ tháng 7/2008. Dòng sông Melaka chảy qua thủ phủ Malacca cũng chính là nơi hình thành lịch sử của hòn đảo. Theo lịch sử, người Bồ Đào Nha đã dùng cây cầu Melaka làm giới tuyến phân chia mảnh đất vốn đã nhỏ bé này thành hai vùng lãnh thổ. Trải hơn 600 năm lịch sử, Melaka ngày nay được ví như một bảo tàng sống lưu giữ nhiều chứng tích lịch sử của đất nước Malaysia.

* Tham khảo hành trình khám phá Melaka - Malaysia tại đây.  

Phố cổ Geogretown (Malaysia)

Geogretown là khu phố cổ, thủ phủ và thành phố lớn nhất của Penang, nằm ở bờ duyên hải miền tây Malaysia. Sở hữu những nét đặc trưng văn hóa của vùng Penang, phố cổ Georgetown được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 2008 và là một trong những điểm đến yêu thích của du khách tại Malaysia. George Town, là thủ phủ của Penang (Malaysia), vốn là pháo đài lập năm 1786 rồi trở thành cảng lớn của hải trình Trung - Ấn. Penang thu hút người Châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ, Bugis, Ả Rập, Armenia, Ba Tư, Thái Lan, Miến Điện và Sumatra… Penang bị suy yếu từ năm 1819 khi Singapore trở thành thương cảng và quân cảng. Sau thế kỷ 19, Penang lấy lại vị thế nhờ sự phát triển của ngành khai thác thiếc và cao su. Năm 1969, Penang đã thuê một công ty tư vấn Mỹ để lập kế hoạch tổng thể để tái sinh nó bằng công nghiệp hướng tới xuất khẩu, chuyển từ thương mại sang sản xuất và xây dựng. Sân bay quốc tế và cầu mới được xây dựng vào thập kỷ 1970 - 1980, thúc đẩy lượng du khách và nhà đầu tư để hình thành Khu vực Thương mại sôi động.

Du lịch đóng góp to lớn cho sự phát triển của Penang từ thập kỷ 60, với “mặt trời, cát và biển” nổi tiếng. Di sản văn hóa của Penang, đặc biệt là George Town, đã bị bỏ qua bởi sự phát triển của du lịch. Tuy nhiên, đến những năm 90, đối mặt với những cuộc cạnh tranh từ các trung tâm du lịch mới nổi tại Đông Nam Á, Penang bắt đầu nhận ra du lịch di sản văn hóa mới là động lực thực sự để phát triển thế mạnh du lịch của mình. Penang là nơi các tín đồ Hồi giáo Nam Á lên tàu đến thánh địa Mecca. UNESCO công nhận George Town là di sản văn hóa năm 2008, bởi tính độc đáo của sự pha trộn của sự đa dạng tôn giáo, cảnh quan lịch sử và cuộc sống, đó là: Đô thị thương mại đa văn hóa; Di sản cộng đồng đa văn hóa truyền thống Châu Á pha trộn với thuộc địa Châu Âu; Tổ hợp nhà ở và cửa hàng độc đáo… Chính sách bảo tồn George Town được khởi động từ đầu những năm 70. Sự phát triển đô thị nhanh chóng những năm 80 làm tăng nhận thức về bảo tồn của cộng đồng dân cư George Town và họ thực sự tham gia “phong trào” bảo tồn. Năm 1987, George Town đã có “Hướng dẫn Thiết kế cho Khu vực Bảo tồn ở nội thành George Town, Penang”. Khu vực bảo tồn được xác định và đưa vào kế hoạch cấu trúc và địa phương.

* Tham khảo hành trình khám phá Melaka - Malaysia tại đây.  

Hội An

Hội An được công nhận là Di sản văn hóa Thế giới của UNESCO năm 1999. Hội An - nơi mà dường như dòng chảy vô tình của thời gian chẳng thể nào vùi lấp đi cái không khí cổ xưa. Những mái ngói cũ phủ đầy rêu phong, những con đường ngập trong sắc đỏ của đèn lồng, những bức hoành phi được chạm trổ tinh vi, tất cả như đưa ta về với một thế giới của vài trăm năm trước. Đó mới chỉ là một phần dung dị ở khu phố cổ Hội An nhưng cũng đã đủ khiến người ta phải đắm say, đi quên lối về. Khu phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng chừng 30km về phía Nam. Khu phố cổ Hội An gói gọn trong phường Minh An với diện tích chỉ tầm 2km2 với một địa thế thật đặc biệt theo kiểu bàn cờ mà đặc trưng ở đó là những con đường ngắn và hẹp, chạy uốn lượn, ngang dọc, khiến người ta rẽ lối nào rồi cũng dễ dàng gặp được nhau. Theo thống kê Hội An có 1360 di tích bao gồm 1068 nhà cổ, 11 giếng nước cổ, 38 nhà thờ tộc, 19 ngôi chùa, 43 miếu thờ thần, 23 đình, 44 mộ cổ loại đặc biệt và một cây cầu. Mặc cho không gian và thời gian cứ chuyển dời, đô thị cổ Hội An vẫn giữ nguyên được những nét đẹp cổ xưa nhất. 

Đó như một nơi chốn mà người ta có thể tìm thấy một quần thể di tích được gìn giữ hầu như nguyên vẹn khiến Hội An trở thành một địa danh độc nhất vô nhị trong biên niên sử thời hiện đại. Tới Hội An ngày nay, ta cứ ngỡ như là mình đang quay ngược dòng thời gian, lạc bước trong không khí truyền thống của một thương cảng sầm uất thời nhà Nguyễn. Tới Hội An ngày nay là có thể rời xa mọi cám dỗ của đời thường để sống trọn vẹn trong từng giây phút. Là một kiểu cảng thị truyền thống Đông Nam Á duy nhất ở Việt Nam, hiếm có trên thế giới, Hội An giữ được gần như nguyên vẹn hơn một nghìn di tích kiến trúc như phố xá, nhà cửa, hội quán, đình, chùa, miếu, nhà thờ tộc, giếng cổ, mộ cổ… Các kiến trúc vừa có sắc thái nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, vừa thể hiện sự giao lưu hội nhập văn hoá với các nước phương Đông và phương Tây. Trải qua nhiều thế kỷ, những phong tục tập quán, nghi lễ, sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng cũng như các món ăn truyền thống vẫn lưu giữ, bảo tồn cùng với bao thế hệ người dân phố cổ. Hội An còn có một môi trường thiên nhiên trong lành, êm ả với những làng nhỏ ngoại ô xinh xắn, có nghề thủ công như mộc, làm đồ đồng, gốm…

* Tham khảo hành trình khám phá Hội An tại đây.  

Cung điện Potala

Cung điện Potala nằm ở nơi cao nhất thế giới và có tới hàng ngàn pho tượng Phật lớn nhỏ, tọa lạc ở Lhasa - thủ phủ của Tây Tạng. Cung điện này được coi là biểu tượng của Phật giáo Tây Tạng. Phong cách kiến trúc đồ sộ và xếp lớp phần nào làm quang cảnh nơi đây càng khiến du khách sửng sốt hơn. Chính giữa một khoảng trời đất bao la lại nổi lên một "thành trì" thường chỉ thấy trong những câu truyện cổ. Cung điện Potala được xây dựng vào năm 637, để đánh dấu mốc cuộc hôn nhận của vua Tùng Tán Cán Bố và Công chúa Văn Thành, vị vua vĩ đại này đã cho xây dựng một cung điện nguy nga và đồ sộ. Cung điện đã bị phá hủy hầu hết vào thời Trung cổ và đến thế kỷ XVII mới được trùng tu. Phải mất thêm hơn 50 năm công trình mới hình thành quy mô như ngày nay. Đến thăm quần thể cung điện này, du khách sẽ lần lượt tham quan 3 công trình kiến trúc tiêu biểu là cung điện mùa đông Potala, đền Jokhang và cung điện mùa hè Norbulingka. Các tòa nhà được xây dựng bằng gỗ và đá là lối kiến trúc nổi bật cho phong cách Phật giáo Tây Tạng, mang đậm nét ảnh hưởng Trung Quốc, Ấn Độ và Nepal.

Nằm trên đỉnh Hồng Đồi (Marpori) hướng ra thung lũng Lhasa, Cung điện Potala cao 170m, từ Đông sang Tây có chiều dài 360m, chiều rộng theo trục Bắc - Nam là 270m. Công trình gồm 13 tầng, bên trong chia thành hơn 1.000 căn phòng nhỏ. Tọa lạc ở độ cao 3.600 mét so với mực nước biển. Nơi này được xem là cung điện đồ sộ và nguy nga nhất trong tất cả các kiến trúc cung điện ở Tây Tạng. Cung điện gồm 3 bộ phận: Khu cung thành phía trước núi, khu cung thất trên đỉnh núi và khu hồ phía sau núi. Khu cung thành có 3 cửa, cửa Đông, cửa Nam và Tây cùng 2 gác lầu, là nơi đặt các cơ quan quản lý phục vụ cung thành, như viện in kinh sách, nơi ở của các quan viên, tăng ni.Leo hết con đường bằng đá là tới khu cung thất, nơi này gồm Bạch Cung và Hồng Cung. Hồng Cung là quần thể kiến trúc mang tính chất tôn giáo. Lăng mộ của tám vị Đạt Lai Lạt Ma trước đây cũng nằm trong Hồng Cung. Vật liệu xây dựng cung điện chủ yếu là đất, đá và gỗ. Lúc đó chưa có phương tiện di chuyển, tất cả vật liệu này đều phải dùng lừa và sức người. Tòa nhà lớn có hơn 1.000 gian phòng, hơn 10.000 Phật điện và 20.000 tượng điêu khắc. Đạt Lai ở trong gian phòng gần vùng nóc, ngăn cách với dân chúng. Trên mái bằng cung điện, các Đạt Ma thổi kèn dài 4 m để cầu nguyện. 

Thánh địa Mỹ Sơn

Khu thánh địa Mỹ Sơn là quần thể di tích đền đài Chăm Pa thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Cách Trà Kiệu 20 km về phía Tây, cách thành phố Hội An 45 km về phía Tây, cách thành phố Đà Nẵng 68 km về phía Tây Nam, cách cố đô Huế 145 km về phía Nam. Khu vực này nằm trong một thung lũng có đường kính rộng chừng 2 km, bao quanh là đồi núi trùng điệp. Đây từng là nơi tổ chức cúng tế cũng như là khu vực lăng mộ các vua quan, hoàng thân quốc thích của những vương triều Chăm Pa xưa. Năm 1999, khu di tích Mỹ Sơn của Việt Nam được UNESCO công nhận nơi này là Di sản Văn hóa Thế Giới. Thánh địa Mỹ Sơn có niên đại khoảng thế kỷ IV - sớm nhất ở Mỹ Sơn, vua Bhadresvara đã xây dựng một ngôi đền dâng cúng vua Bhadravarman - vị vua sáng lập dòng vua đầu tiên vùng Amaravati vào cuối thế kỷ IV, được đồng hóa với thần Siva, trở thành tín ngưỡng thờ thần - vua cùng tổ tiên hoàng tộc. Đây là tổ hợp gồm nhiều đền đài của vương quốc Champa, nằm lọt trong một thung lũng nhỏ có đường kính khoảng 2 km, được bao quanh bởi núi đồi. Nơi đây là một quần thể với hơn 70 ngôi đền tháp mang nhiều phong cách kiến trúc điêu khắc tiêu biểu cho từng giai đoạn lịch sử của vương quốc Champa. Phong cách kiến trúc ở đây được chia làm 6 loại: phong cách cổ, Hòa Lai, Đồng Dương, Mỹ Sơn, PoNagar và phong cách của người dân Bình Định. Hầu hết các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc tại Mỹ Sơn đều chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo.

Kỹ thuật điêu khắc trên gạch của người Chăm rất ít xuất hiện trong các nghệ thuật khác ở khu vực khác. Các tháp đều có hình chóp, biểu tượng của đỉnh Meru thần thánh, nơi cư ngụ của các vị thần Hindu. Cổng tháp thường quay về phía Đông để nhận ánh sáng măt trời. Tường bên ngoài tháp thường trang trí hoa văn lá cuốn hình chữ S nối liền nhau. Các vật trang trí là tượng điêu khắc bằng sa thạch hình Makara (con thú thần thoại có nanh nhọn và vòi dài), hình vũ nữ Apsara, sư tử, voi, chim thần Garuda, tượng người cầu nguyện. Chúng được xếp khít với nhau và đến ngày nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào xác định được chất kết dính, hình người, hình thù lên tháp. Điểm nổi bật của nghệ thuật điêu khắc Chăm là thể hiện sức sống mãnh liệt của con người với nội tâm lúc bay bổng sảng khoái, lúc trầm tĩnh ưu tư, lúc lại trăn trở day dứt. Mỗi một giai đoạn lịch sử đều mang dấu ấn riêng với những đường nét kiến trúc khác biệt. Thánh Địa Mỹ Sơn Quảng Nam không chỉ cho thấy kiệt tác ghi dấu của một nền kiến trúc Champa mà còn của cả nền văn hóa khu vực Đông Nam Á. Trên mỗi vòm cuốn là một hình tháp thu nhỏ, theo những tài liệu để lại thì đây là ngôi tháp cao nhất trong các tháp thánh địa ở Mỹ Sơn với chiều cao 24m, đáy tháp hình vuông, mỗi cạnh dài 10m. Trong tháp thờ một bộ Linga - Yoni lớn (nay chỉ còn một bệ đá Yoni). Phần trên tháp có 3 tầng, các tầng nhỏ dần lại và trên cùng là đỉnh tháp bằng sa thạch. Ở mỗi tầng đều có cửa giả, có hình người đứng dưới vòm cuốn. Hai cửa giả hai bên là hai vòm cuốn chồng lên nhau, trang trí hoa văn rất tinh xảo.

-------------------------------

MDG Tour - chuyên cung cấp các dịch vụ du lịch và du học

. Tour du lịch hấp dẫn

. Tư vấn dịch vụ miễn phí

. Dịch vụ visa trọn gói

. Dịch vụ du học

 

Nguồn: unsplash và internet